Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới B2B cho ngành dệt may Việt Nam

22:06 - 27/04/2026

ThS. Nguyễn Thanh Vân Hằng; CN.Ngô Thị Mai Hương; ThS. Nguyễn Thị Hiền Minh, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Tóm tắt: Thương mại điện tử (TMĐT) Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025 chứng kiến sự bùng nổ vượt bậc với tốc độ tăng trưởng trung bình cao, khoảng 29%/năm. Quy mô thị trường dự kiến tăng từ 11,8 tỷ USD (2020) lên đến 52 tỷ USD vào năm 2025, giúp Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ phát triển TMĐT nhanh nhất thế giới.  Thương mại điện tử B2B (Doanh nghiệp với Doanh nghiệp) giai đoạn 2020-2025 tăng trưởng ấn tượng, được thúc đẩy bởi chuyển đổi số, giúp doanh nghiệp vươn ra toàn cầu. Tuy vậy, thương mại điện tử B2B chưa phát triển về chất, chưa đáp ứng được yêu cẩu của hội nhập, chưa đáp ứng được yêu cầu của một số ngành hàng tiêu biểu. Thời gian tới cần thiết phải thực hiện một số giải pháp thúc đẩy hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới B2B cho một số ngành hàng tiêu biểu.

Keywords: Thương mại điện tử; TMĐT B2B; thương mại điện tử xuyên biên giới.

1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thương mại điện tử xuyên biên giới B2B hiện nay

1.1 Khái niệm

TMĐT là hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử kết nối Internet hoặc mạng viễn thông. Theo Nghị định số 52/2013/NĐ-CP định nghĩa TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại qua mạng Internet hoặc các mạng mở khác. Xét dưới góc độ công nghệ thông tin, e-commerce thường được hiểu là việc mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc chuyển giao dữ liệu qua mạng điện tử. Luật TMĐT số 122/2025/QH15 (đã được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực từ 01/07/2026) định nghĩa “Hoạt động TMĐT là hoạt động thương mại được tiến hành một phần hoặc toàn bộ trên môi trường điện tử” (khoản 1 Điều 3). Từ các cách tiếp cận nêu trên có thể thấy, đối với doanh nghiệp, khi sử dụng các phương tiện điện tử (điện thoại, fax, truyền hình, điện thoại không dây, máy tính,..) và mạng vào trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối, thanh toán thì được xem là tham gia TMĐT. Theo Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc, TMĐT được chia thành TMĐT nội địa và TMĐT XBG tùy vào việc người mua và người bán có ở cùng một quốc gia hay không (UNESCAP, 2020).

TMĐT B2B (Business-to-Business) là hình thức TMĐT trong đó các doanh nghiệp trao đổi mua bán sản phẩm, dịch vụ hoặc thông tin cho nhau thông qua mạng Internet. Ví dụ, các sàn giao dịch TMĐT B2B (như Alibaba.com, Amazon Business) cho phép doanh nghiệp tìm kiếm nhà cung cấp, đàm phán và thực hiện giao dịch trực tuyến thông qua hệ thống đặt hàng điện tử. Do đặc thù hướng đến đối tượng doanh nghiệp, TMĐT B2B thường có quy mô giao dịch lớn, chu kỳ thanh toán kéo dài, yêu cầu các công cụ tích hợp ERP/phần mềm quản lý và độ bảo mật cao.

TMĐT XBG (Cross-border e-commerce) là mô hình kinh doanh thương mại quốc tế thông qua nền tảng Internet, trong đó các đối tác giao dịch ở hai vùng hải quan khác nhau giao dịch, thanh toán và vận chuyển hàng hoá qua biên giới. Nó được chia thành hai loại: TMĐT nhập khẩu XBG và TMĐT xuất khẩu XBG. TMĐT nhập khẩu XBG, như tên gọi, chỉ việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào thị trường nội địa để tiêu thụ. TMĐT xuất khẩu XBG chỉ người bán bán hàng hóa ra thị trường nước ngoài thông qua Marketplace TMĐT như Amazon, Alibaba...Theo VECOM, TMĐT XBG cho phép các thực thể kinh doanh ở các nước khác nhau tiếp cận giao dịch, thực hiện thanh toán và giao hàng qua dịch vụ vận chuyển XBG để hoàn tất giao dịch. TMĐT XBG bao gồm các hình thức chính: B2C (Business-to-Consumer) XBG; B2B (Business-to-Business) XBG; C2C (Consumer-to-Consumer) XBG; B2G (Business-to-Government) và G2C (Government-to-Consumer) XBG.

TMĐT XBG B2B là sự kết hợp của hai khái niệm trên: đó là hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp nằm ở hai/nhiều quốc gia khác nhau thông qua mạng Internet và các nền tảng TMĐT quốc tế. Như vậy có thể định nghĩa: TMĐT XBG B2B là một mô hình kinh doanh trực tuyến quốc tế, trong đó các giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ diễn ra giữa các doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau thông qua các nền tảng kỹ thuật số và Internet. TMĐT XBG B2B thường gắn với những hợp đồng dài hạn, giá trị lớn và quy trình mua bán phức tạp, đòi hỏi tính minh bạch, hiệu quả và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan.

1.2 Đặc điểm, vai trò của thương mại điện tử xuyên biên giới B2B

1.2.1 Đặc điểm thương mại điện tử xuyên biên giới B2B

- Quy mô toàn cầu và tiềm năng thị trường lớn

TMĐT XBG B2B mang tính chất toàn cầu, cho phép các doanh nghiệp tiếp cận và mở rộng thị trường vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Nhờ vào các nền tảng trực tuyến, doanh nghiệp có thể tìm kiếm đối tác, ký kết hợp đồng và triển khai hoạt động giao thương mà không cần sự hiện diện vật lý.. Ngoài ra, theo United Nations Conference on Trade and Development, tổng giá trị TMĐT toàn cầu đã đạt khoảng 29 nghìn tỷ USD, trong đó phần lớn thuộc về các giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Tại Việt Nam, các chuyên gia ước tính nếu chỉ 10% kim ngạch xuất nhập khẩu được thực hiện qua kênh TMĐT XBG (B2B), giá trị giao dịch cũng vượt 50 tỷ USD. Như vậy, TMĐT XBG B2B mang lại tiềm năng mở rộng thị trường vô cùng to lớn cho doanh nghiệp.

- Tính chất giao dịch phức tạp

Giao dịch XBG B2B thường có giá trị lớn, đa dạng về chủng loại hàng hóa, và đòi hỏi quy trình thương thảo, đàm phán phức tạp hơn so với B2C. Doanh nghiệp phải quản lý chuỗi cung ứng toàn cầu với nhiều đối tác và các thủ tục quy định đa dạng. VECOM nhận định hoạt động B2B XBG thực chất vẫn là thương mại truyền thống được hỗ trợ bởi nền tảng số: doanh nghiệp chủ yếu dùng kênh trực tuyến để giới thiệu và trao đổi thông tin, còn thủ tục giao dịch, thông quan vẫn thực hiện chủ yếu ngoại tuyến. Hơn nữa, giao dịch XBG thường kéo dài hơn và đòi hỏi xây dựng niềm tin lẫn nhau cao. Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng cảnh báo sự khác biệt về văn hóa, tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ chế kinh doanh giữa các thị trường làm tăng độ phức tạp: TMĐT XBG B2B có độ đa dạng về sản phẩm, quy trình, tiêu chuẩn và các bên tham gia lớn hơn nhiều so với thị trường nội địa

- Nền tảng công nghệ tích hợp cao

Các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (blockchain), và Internet vạn vật (IoT) đã được tích hợp sâu vào TMĐT XBG B2B. Những công nghệ này giúp doanh nghiệp phân tích dữ liệu thị trường, đánh giá đối tác, tự động hóa quy trình mua bán và cải thiện tính minh bạch trong giao dịch. Hạ tầng kỹ thuật số như mạng 5G, trung tâm dữ liệu đám mây cũng đóng vai trò hỗ trợ mạnh mẽ. Hệ thống TMĐT cần tích hợp từ front-end đến back-end (hệ thống ERP, kho dữ liệu), hỗ trợ mua bán đa kênh (omni-channel) và phân phối thông tin tức thì cần đầu tư hạ tầng linh hoạt, tích hợp thống nhất giữa các phòng ban và các kênh giao dịch trực tuyến để đáp ứng nhu cầu thời gian thực của khách hàng.

Phương thức thanh toán linh hoạt và bảo mật chặt chẽ

Thanh toán trong TMĐT XBG B2B thường diễn ra qua các phương thức như chuyển khoản ngân hàng quốc tế (SWIFT), thư tín dụng (L/C), ví điện tử doanh nghiệp hoặc các cổng thanh toán chuyên dụng như Payoneer, Wise. Do giao dịch có giá trị lớn, yếu tố bảo mật thông tin và phòng ngừa rủi ro gian lận được đặt lên hàng đầu với các tiêu chuẩn mã hóa, chứng thực điện tử và hệ thống xác minh nhiều lớp.

1.2.2 Vai trò của thương mại điện tử xuyên biên giới B2B

Thứ nhất, TMĐT XBG B2B góp phần mở rộng không gian thị trường, thiết lập đối tác chiến lược cho doanh nghiệp

Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào các kênh xúc tiến thương mại truyền thống hoặc mạng lưới trung gian, doanh nghiệp có thể chủ động tiếp cận khách hàng, nhà nhập khẩu, nhà phân phối và đối tác ở nhiều quốc gia thông qua các nền tảng số. Nhờ đó, doanh nghiệp không chỉ khai thác các thị trường truyền thống như EU, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản mà còn dễ dàng đột phá vào thị trường mới nổi như Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh. Việc mở rộng quy mô thị trường giúp giảm thiểu phụ thuộc vào một thị trường duy nhất, đồng thời đa dạng hóa nguồn doanh thu và phân tán rủi ro kinh doanh. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với doanh nghiệp ở các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Mặt khác, mô hình B2B chú trọng vào việc xây dựng quan hệ hợp tác dài hạn giữa các doanh nghiệp, tạo nền tảng vững chắc cho chuỗi cung ứng và phân phối. Thay vì giao dịch ngắn hạn, các doanh nghiệp B2B thường tìm kiếm sự ổn định và tin cậy thông qua liên kết chiến lược với đối tác. Sự hợp tác này không chỉ nâng cao khả năng đồng bộ trong sản xuất và phân phối, mà còn giúp các bên tận dụng thế mạnh lẫn nhau để tăng hiệu quả vận hành, cải thiện chất lượng sản phẩm và tối ưu hóa chi phí.

Thứ hai, TMĐT XBG B2B đóng vai trò thúc đẩy quá trình số hóa hoạt động xuất khẩu và quản trị doanh nghiệp

Khi tham gia môi trường giao dịch số, doanh nghiệp không chỉ thay đổi cách tiếp cận khách hàng mà còn phải nâng cấp đồng bộ các khâu như quản lý dữ liệu, quản trị đơn hàng, marketing quốc tế, theo dõi logistics, thanh toán và chăm sóc khách hàng doanh nghiệp. Vì vậy, TMĐT XBG B2B trở thành động lực thúc đẩy chuyển đổi số theo chiều sâu, thay vì chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ đơn lẻ. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) còn giúp doanh nghiệp phân tích sâu sắc hơn nhu cầu thị trường, hành vi người tiêu dùng, từ đó tối ưu hóa chiến lược sản phẩm và tiếp thị.

Thứ ba, TMĐT XBG B2B có vai trò tăng cường khả năng tham gia chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu

Trên các nền tảng số, doanh nghiệp không chỉ bán hàng thành phẩm mà còn có thể giới thiệu năng lực gia công, sản xuất theo đơn hàng, cung ứng nguyên phụ liệu hoặc phát triển sản phẩm theo yêu cầu của đối tác quốc tế. Nhờ đó, doanh nghiệp có cơ hội tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu. Các SME có thể tận dụng TMĐT XBG để gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu mà không cần đầu tư lớn. Nhờ khả năng tiếp cận dễ dàng, họ có cơ hội ký kết hợp đồng OEM/ODM với các tập đoàn đa quốc gia, từ đó thúc đẩy tăng trưởng doanh thu và thương hiệu trên trường quốc tế.

Thứ tư, TMĐT XBG B2B góp phần nâng cao tính minh bạch và chuẩn hóa trong hoạt động thương mại quốc tế

Môi trường số đòi hỏi doanh nghiệp phải công khai hơn về thông tin sản phẩm, năng lực sản xuất, chứng nhận chất lượng, điều kiện giao hàng và điều khoản thanh toán. Điều này tạo ra sức ép tích cực buộc doanh nghiệp phải hoàn thiện quy trình quản trị, chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao mức độ sẵn sàng trong việc đáp ứng các yêu cầu ngày càng chặt chẽ của thị trường quốc tế. Về lâu dài, quá trình này không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín mà còn góp phần làm cho hoạt động thương mại quốc tế trở nên minh bạch, chuyên nghiệp và hiệu quả hơn.

Thứ năm, ở cấp độ rộng hơn, TMĐT XBG B2B có vai trò hỗ trợ tái cấu trúc mô hình tăng trưởng thương mại theo hướng hiện đại, linh hoạt và dựa trên nền tảng số

Sự phát triển của TMĐT XBG B2B không chỉ mở ra thêm một kênh xuất khẩu cho doanh nghiệp mà còn thúc đẩy sự chuyển dịch của toàn bộ hệ sinh thái thương mại theo hướng số hóa. Khi doanh nghiệp gia tăng giao dịch trên môi trường trực tuyến, nhu cầu đối với các dịch vụ hỗ trợ như logistics quốc tế, thanh toán điện tử, xác thực thông tin, chứng nhận chất lượng, kiểm định sản phẩm, marketing số và tư vấn pháp lý cũng đồng thời tăng lên. Qua đó, TMĐT XBG B2B góp phần thúc đẩy kinh tế số, mở rộng các ngành dịch vụ hỗ trợ thương mại và tạo động lực cho việc đổi mới mô hình tăng trưởng thương mại theo hướng linh hoạt hơn, giảm phụ thuộc vào phương thức giao dịch truyền thống và nâng cao khả năng thích ứng với biến động của thị trường toàn cầu.

2. Thực trạng tham gia TMĐT xuyên biên giới B2B của ngành dệt may Việt Nam

2.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng

Ngành dệt may Việt Nam đã khẳng định vị thế là một trong những trụ cột kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể vào tổng kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Với vai trò chiến lược, ngành này không chỉ là động lực tăng trưởng kinh tế mà còn là cầu nối quan trọng đưa sản phẩm “Made in Vietnam” vươn ra thị trường toàn cầu. Ngành dệt may chiếm khoảng 10% GDP của cả nước và sử dụng gần 3 triệu lao động (Baochinhphu.vn, 2026). Các yếu tố chính thúc đẩy sự tăng trưởng này là:

Sản xuất có giá thành cạnh tranh: Chi phí lao động của Việt Nam thấp hơn so với nước láng giềng Trung Quốc trong khi vẫn cung cấp chất lượng sản xuất cao hơn so với các khu vực có chi phí thấp khác. Sự kết hợp này khiến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho các thương hiệu toàn cầu muốn tối ưu hóa chi phí mà không phải hy sinh chất lượng.

Hỗ trợ của FTA: Việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại quan trọng như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do EU-Việt Nam (EVFTA) mang lại cho Việt Nam lợi thế về thuế quan so với các nước cạnh tranh. Các hiệp định này cung cấp quyền tiếp cận ưu đãi vào các thị trường ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á.

Vị trí chiến lược: Vị trí gần Trung Quốc của Việt Nam, kết hợp với khả năng tiếp cận các tuyến vận chuyển chính, định vị Việt Nam là trung tâm quan trọng cho sự đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Đối với các thương hiệu muốn giảm sự phụ thuộc quá mức vào sản xuất tại Trung Quốc, Việt Nam là một lựa chọn thay thế ngày càng hấp dẫn.

Xét về vị thế và tầm quan trọng, ngành dệt may Việt Nam hiện nằm trong nhóm ba quốc gia có kim ngạch xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ này được thể hiện qua số liệu thống kê: tính đến cuối năm 2023, cả nước có gần 7.000 doanh nghiệp dệt may đang hoạt động, sử dụng hơn 3 triệu lao động, chiếm tỷ trọng lớn trong khối công nghiệp chế biến.

Theo số liệu của Cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành hàng dệt may năm 2024 đạt hơn 43 tỷ USD, tăng gần 10% so với năm 2023 và chiếm tỷ trọng 10,2% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2024 của cả nước. Trong đó, xuất khẩu dệt may Việt Nam qua TMĐT đang tăng trưởng mạnh mẽ, với hơn 150 thương hiệu hiện diện trên 20+ sàn quốc tế (Amazon, Alibaba...) trong giai đoạn 2021-2024, tận dụng xu hướng XBG.

Trong đó, xuất khẩu hàng may mặc đạt 37,04 tỷ USD, tăng 11,2%; xuất khẩu xơ, sợi dệt các loại đạt 4,41 tỷ USD, tăng 1,2%; xuất khẩu vải mảnh, vải kĩ thuật khác đạt 771 triệu USD, tăng 16,7%; xuất khẩu nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày đạt 2,23 tỷ, tăng 14,2%. Kết quả này cho thấy, xuất khẩu hàng dệt và may mặc của Việt Nam đang hồi phục tốt và dần lấy lại đà tăng trưởng so với thời điểm trước dịch Covid-19 (Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam, 2024)

Riêng đối với B2B, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam thông qua kênh TMĐT B2B đã chứng kiến sự tăng trưởng ấn tượng trong giai đoạn 2020-2025, phản ánh rõ rệt hiệu quả của các chính sách hỗ trợ và nỗ lực chuyển đổi của doanh nghiệp.

Xu hướng tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu dệt may qua TMĐT B2B trong giai đoạn 2020-2025 phản ánh hiệu quả của các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ và nỗ lực thích ứng của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, biểu đồ cũng cho thấy kim ngạch xuất khẩu TMĐT B2B đang chiếm thị phần tương đối nhỏ trong tổng kim ngạch chung của cả ngành. Tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may toàn ngành năm 2024 đạt khoảng 43,7 tỷ USD, tăng 31,2% so với năm 2023. Mục tiêu đến năm 2025 là 55 tỷ USD. (VITAS, 2020)

Mặc dù kim ngạch xuất khẩu qua TMĐT B2B cho thấy tốc độ tăng trưởng phần trăm ấn tượng, giá trị tuyệt đối của nó (dự kiến 4,8 tỷ USD vào năm 2025) vẫn là một phần tương đối nhỏ (dưới 10%) so với tổng mục tiêu xuất khẩu của toàn ngành (55 tỷ USD vào năm 2025). Điều này cho thấy tiềm năng chưa được khai thác đáng kể và sự tăng trưởng hiện tại, dù mạnh mẽ, vẫn bắt đầu từ một nền tảng thấp.

2.2. Mức độ tham gia nền tảng số

Tính đến cuối năm 2023, Việt Nam có gần 7.000 doanh nghiệp dệt may đang hoạt động (theo VITAS). Trong số này, khoảng 2.500 – 3.000 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu trực tiếp Đây là nhóm doanh nghiệp có khả năng tiếp cận TMĐT XBG B2B. Hiện nay chưa có số liệu chính thức tuyệt đối về số doanh nghiệp dệt may Việt Nam tham gia TMĐT XBG B2B. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục nỗ lực để đưa nhiều doanh nghiệp truyền thống hơn vào hệ thống TMĐT B2B tiên tiến.

Ngành dệt may Việt Nam đặc trưng bởi sự hiện diện áp đảo của SMEs chiếm hơn 80% tổng số doanh nghiệp, phần lớn sử dụng marketplace B2B vì chi phí thấp và dễ tiếp cận khách hàng toàn cầu.

Về phát triển nền tảng TMĐT B2B: Theo Báo cáo EBI 2025, Việt Nam đã có khung đo lường rõ hơn cho thành phần B2B, trong đó có tiêu chí về tỷ lệ doanh nghiệp tham gia các nền tảng công nghệ kinh doanh đa kênh. Đồng thời, khảo sát của VECOM cho thấy doanh nghiệp vẫn có nhu cầu rất lớn về đào tạo kỹ năng TMĐT và xúc tiến thương mại, kết nối giao thương, cùng ở mức 62%. Điều này phản ánh bức tranh chung: hạ tầng nền tảng số của Việt Nam đang phát triển, nhưng mức độ ứng dụng thực chất trong doanh nghiệp vẫn còn chưa đồng đều.

2.2.3. Mức độ chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ

Căn cứ vào số liệu của Tổng cục thống kê năm 2022 cho thấy, từ năm 2010 đến năm 2021, năng suất lao động của ngành Dệt may tăng đáng kể, gấp 2,04 lần; vào năm 2010, ngành Dệt may cần 93.000 người để tạo ra 1 tỷ USD xuất khẩu thì vào năm 2021, ngành chỉ cần 45.696 người để tạo ra 1 tỷ USD xuất khẩu. Các nghiên cứu về năng suất lao động của ngành dệt may đều chứng tỏ năng suất lao động tăng lên là có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do có sự tác động mạnh của việc đầu tư công nghệ mới trong các DN dệt may Việt Nam. Trình độ công nghệ của ngành Dệt may trong tất cả các lĩnh vực sợi, dệt, nhuộm, may được đánh giá thông qua các chỉ số khảo sát về việc ứng dụng các thành tựu của CMCN 4.0.

Bên cạnh việc ứng dụng các thành tựu của CMCN 4.0, trình độ công nghệ của ngành dệt may còn được đánh giá bằng mức độ hiện đại của máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất.

3. Đề xuất một số giải pháp

3.1. Hoàn thiện khung chính sách, pháp luật về TMĐT xuyên biên giới B2B

Việc hoàn thiện khung chính sách pháp luật TMĐT XBG B2B cho ngành dệt may và nội thất gỗ là yêu cầu cấp thiết khi Việt Nam bước vào giai đoạn thực thi các quy định mới từ năm 2026. Dưới đây là các giải pháp trọng tâm nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng và bền vững cho hai ngành hàng xuất khẩu chủ lực này.

Thứ nhất, cần hệ thống hóa các quy định pháp luật dựa trên nền tảng là Luật TMĐT 2025. Luật TMĐT số 122/2025/QH15 (có hiệu lực từ 01/07/2026) đóng vai trò là xương sống cho mọi hoạt động giao dịch số. Các nhóm chính sách trong Luật TMĐT 2025 được thiết kế nhằm triển khai hiệu quả 04 Nghị quyết trọng yếu của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024  về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về "Hội nhập quốc tế trong tình hình mới"; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025  về phát triển kinh tế tư nhân) và giải quyết một số vấn đề tồn đọng hiện nay như: kiểm soát, xử lý hàng giả, hàng cấm, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng kém chất lượng, đặc biệt trong việc định danh người bán, truy vết và xử lý vi phạm; tránh thất thu thuế từ hoạt động TMĐT bao gồm cả TMĐT XBG; nâng cao công tác bảo vệ người tiêu dùng trong TMĐT và xây dựng các chính sách phù hợp với thực tiễn nhằm thúc đẩy phát triển TMĐT trong giai đoạn tới.

Thứ hai, chính sách thúc đẩy chuyển đổi B2B truyền thống sang xuất khẩu trực tuyến. Ngành gỗ và dệt may Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chuyển dịch từ thuần gia công sang chủ động thương mại trực tiếp. Các chính sách này có thể tập khung vào hỗ trợ các thủ tục hành chính như đơn giản hóa các thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ, hoàn thiện quy định về hỗ trợ kho bãi, hỗ trợ vận chuyển hàng cồng kềnh, chuẩn hóa hồ sơ sản phẩm, xây dựng bộ tiêu chuẩn hồ sơ cho sản phẩm nội thất..

Thứ ba, cần ban hành các văn bản hướng dẫn về tài chính và thuế chuyên biệt:

Chính sách thuế và tín dụng: Xây dựng gói tín dụng ưu đãi cho các dự án chuyển đổi số, đầu tư máy móc công nghệ cao và thiết bị sản xuất thông minh trong ngành dệt may, nội thất gỗ; Hỗ trợ chi phí đào tạo nhân lực: Miễn, giảm thuế thu nhập hoặc hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp đào tạo nhân sự chuyên sâu về vận hành sàn TMĐT B2B quốc tế (như Alibaba, Amazon Global Selling) ; Khuyến khích TMĐT xanh: Ban hành các quy chuẩn về “TMĐT bền vững”, ưu tiên các doanh nghiệp có quy trình sản xuất tuần hoàn, sử dụng vật liệu tái chế và đáp ứng tiêu chuẩn xanh của EU, Mỹ

Thứ tư, chính sách bảo vệ doanh nghiệp và xử lý vi phạm trên không gian số:

Một khung pháp lý hoàn thiện phải đi đôi với khả năng thực thi và bảo vệ doanh nghiệp:

Phòng vệ thương mại: Nâng cao năng lực truy xuất thông qua dữ liệu số để cảnh báo sớm các mặt hàng có nguy cơ bị điều tra lẩn tránh thuế hoặc điều tra phòng vệ thương mại.

Chống hàng giả, hàng nhái: Tăng cường chế tài xử lý nghiêm các hành vi gian lận thương mại trên môi trường số để bảo vệ uy tín cho các thương hiệu dệt may (như Việt Tiến, May 10) và nội thất Việt Nam.

Cân bằng quyền lợi: Quy định các sàn TMĐT không được áp đặt doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics hoặc thanh toán độc quyền, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

3.2. Tăng cường đàm phán và tận dụng FTA

Thứ nhất, khai thác tối đa các FTA mà Việt Nam đã ký bằng cách đưa quy định thuận lợi cho xuất khẩu qua TMĐT trong các cam kết (giảm thuế, mở cửa thị trường, hỗ trợ chứng nhận xuất xứ)

Thứ hai, tận dụng ưu đãi thuế quan và mở cửa thị trường cho giao dịch TMĐT XBG. Các FTA như EVFTA, CPTPP, RCEP đều cam kết xóa bỏ 90–98% dòng thuế nhập khẩu cho hàng hóa có xuất xứ Việt Nam. Giải pháp cụ thể:

- Cần cơ chế “thuế điện tử” (e-Tariff) áp dụng cho đơn hàng TMĐT quy mô nhỏ hoặc trung bình, giúp người bán Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế FTA ngay khi giao dịch TMĐT được xác định có xuất xứ hợp lệ.

- Xây dựng cổng xác thực xuất xứ điện tử (e-C/O) kết nối với Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và các sàn TMĐT lớn (Alibaba, Amazon, eBay), để khi doanh nghiệp xuất khẩu qua sàn, hệ thống tự động kiểm tra và ghi nhận xuất xứ hàng hóa. Mô hình này đã được thử nghiệm tại Hàn Quốc và Singapore (thông qua ASEAN Single Window) và có thể mở rộng trong khuôn khổ RCEP.

- Xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với các sàn TMĐT B2B lớn trên thế giới để đưa các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường một cách hiệu quả nhất, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức về thị trường.

Thứ ba, bổ sung một số quy định cụ thể về TMĐT và chuyển đổi số vào khuôn khổ thực thi FTA. Các FTA thế hệ mới đều có chương riêng về TMĐT. Tuy nhiên, việc thực thi nội dung này còn hạn chế, chưa có chính sách nội địa hóa cụ thể cho ngành dệt may, gỗ.

Thứ năm, kết nối giữa FTA và tiêu chuẩn bền vững / chứng nhận xanh. Các FTA thế hệ mới như EVFTA và UKVFTA nhấn mạnh yếu tố phát triển bền vững và chuỗi cung ứng xanh, điều này liên quan trực tiếp đến ngành dệt may (hóa chất, nước thải, năng lượng) và gỗ (truy xuất nguồn gốc, chống khai thác rừng trái phép).

Thứ sáu, tận dụng cơ chế hỗ trợ kỹ thuật và xúc tiến thương mại trong khuôn khổ FTA.

Thứ bảy, hợp tác song phương/quốc tế để tháo gỡ rào cản như rào cản kỹ thuật, môi trường, hóa chất, tiêu chuẩn lâm sản, lao động.

3.3. Phát triển hạ tầng số và nền tảng TMĐT xuyên biên giới B2B

Hiện nay, mặc dù Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể trong phát triển hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu và các nền tảng thanh toán số, song hệ thống hạ tầng phục vụ TMĐT B2B vẫn còn phân tán, thiếu tính liên thông và chưa đáp ứng yêu cầu của giao dịch quốc tế hiện đại. Bên cạnh đó, năng lực logistics số, kết nối dữ liệu chuỗi cung ứng và khả năng tích hợp với các nền tảng toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế, gây cản trở cho việc tận dụng cơ hội xuất khẩu qua kênh TMĐT.

Vì vậy, việc phát triển hạ tầng kỹ thuật số và nền tảng TMĐT B2B không chỉ mang ý nghĩa công nghệ, mà còn là một yếu tố quan trọng thúc đẩy nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng tốc chuyển đổi số ngành xuất khẩu và mở rộng khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Phần này tập trung phân tích vai trò của Nhà nước trong việc kiến tạo môi trường hạ tầng số hiện đại, đồng thời đề xuất các giải pháp chính sách nhằm xây dựng nền tảng TMĐT B2B bền vững, phục vụ hiệu quả cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong hai ngành dệt may và nội thất gỗ.

3.4. Nhà nước hỗ trợ đào tạo, tư vấn, phổ biến kiến thức cho doanh nghiệp

Thứ nhất, tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức xã hội về TMĐT XBG.  Các cơ quan quản lý nhà nước, đứng đầu là Bộ Công Thương, cần đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng chiến lược truyền thông quốc gia về TMĐT XBG.

Thứ hai, thúc đẩy các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp:

- Đối với doanh nghiệp khởi nghiệp và SMES: xây dựng chương trình huấn luyện TMĐT thực hành, hướng dẫn quy trình đưa sản phẩm lên sàn TMĐT B2B, kỹ năng tiếp cận khách hàng quốc tế, tối ưu hóa vận hành và thanh toán.

- Hỗ trợ xây dựng thương hiệu số quốc tế, đào tạo kỹ năng quản lý dữ liệu, bảo mật thông tin, và tuân thủ quy định quốc tế về thuế, xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật.

- Khuyến khích doanh nghiệp lớn dẫn dắt – doanh nghiệp nhỏ cùng tham gia, hình thành các chuỗi cung ứng số (digital supply chain) trong từng ngành hàng chủ lực như dệt may, nội thất, nông sản, thủ công mỹ nghệ.

- Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số: Khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp trong ngành dệt may, nội thất gỗ ứng dụng các công nghệ số như AI, Big Data, Blockchain vào hoạt động quản lý sản xuất, quản trị đơn hàng, xây dựng thương hiệu số và phân tích dữ liệu khách hàng B2B

- Biện pháp phòng vệ thương mại chủ động dựa trên dữ liệu số: Trong bối cảnh tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm gỗ và sản phẩm dệt may sang Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng cao, nguy cơ bị áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại là rất lớn. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy ứng phó bị động sang xây dựng năng lực phòng vệ thương mại chủ động dựa trên dữ liệu số. Doanh nghiệp cần sử dụng hệ thống dữ liệu TMĐT B2B, dữ liệu truy xuất nguồn gốc, dữ liệu giá thành và hồ sơ lô hàng để hình thành bộ hồ sơ điện tử chuẩn, sẵn sàng phục vụ xác minh, kiểm toán và phản biện trong các kỳ điều tra của nước nhập khẩu. Đồng thời, Nhà nước cần phát triển cơ chế cảnh báo sớm rủi ro, hướng dẫn chuẩn hóa hồ sơ số và hỗ trợ chi phí pháp lý cho các doanh nghiệp, đặc biệt là SMEs.

Thứ ba, hỗ trợ kết nối doanh nghiệp:

- Xây dựng Cổng thông tin TMĐT XBG quốc gia, tích hợp dữ liệu về chính sách, thị trường, hướng dẫn pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và thông tin thị trường nước ngoài.

- Phát triển nền tảng học tập trực tuyến (E-learning Platform) về TMĐT, với các khóa đào tạo miễn phí hoặc được hỗ trợ chi phí, cập nhật thường xuyên theo từng ngành hàng.

- Thiết lập mạng lưới cố vấn, chuyên gia và hiệp hội TMĐT XBG, kết nối doanh nghiệp trong nước với các đối tác quốc tế, nhằm chia sẻ kinh nghiệm và cơ hội hợp tác.

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Công Thương, (2020), Quyết định số 645/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2021 – 2025, Chính phủ Việt Nam.
  2. Bộ Công Thương, (2022), Chiến lược phát triển ngành Dệt may và Da giày Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035, Chính phủ Việt Nam.
  3. Bộ Công Thương, (2025), Quyết định số 1568/QĐ-BCT ngày 3/6/205 về Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2026 -2030
  4. Bộ Công Thương, (2023), Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2022, Nhà xuất bản Công Thương.
  5. Bộ Công Thương, (2024), Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2024, Nhà xuất bản Công Thương.
  6. Hiệp hội Chế biến Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), (2023), Báo cáo thực trạng ngành gỗ Việt Nam và xu hướng thị trường 2024.
  7. Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), (2023), Báo cáo tổng kết ngành Dệt may Việt Nam năm 2023 và mục tiêu 2024.
  8. Hiệp hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP,HCM (HAWA), (2024), Tạp chí Gỗ và Nội thất: Tái định vị Việt Nam trên chuỗi cung ứng nội thất toàn cầu.
  9. Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM), (2023), Báo cáo Chỉ số TMĐT Việt Nam (EBI) 2023.
  10. Statista, (2023), B2B e-commerce worldwide - Statistics & facts, Statista Research Department.
  11. United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD), (2023), Digital economy report 2023: Value creation and capture in developing countries, United Nations.
  12. World Bank, (2022), Greening the textile and apparel industry in Vietnam. World Bank Group,