
Thông tin về kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ
09:08 - 05/08/2026
a) Tên nhiệm vụ: “Giải pháp đẩy mạnh phân phối, tiêu dùng xanh cho các sản phẩm dệt may tại thị trường Việt Nam”.
- Loại nhiệm vụ: Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ.
- Mã số: ĐTKHCN.080/25.
- Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương.
b) Tổ chức chủ trì nhiệm vụ:
Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương.
c) Chủ nhiệm nhiệm vụ và người tham gia chính
- Chủ nhiệm nhiệm vụ: ThS. Lê Hải An.
- Thư ký nhiệm vụ: ThS. Nguyễn Thanh Phượng.
- Các thành viên chính:
- TS. Hoàng Trường;
- ThS. Trương Huyền Trang;
- ThS. Đào Thị Minh Phượng.
d) Mục tiêu của nhiệm vụ
Mục tiêu tổng quát: Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh phân phối xanh và tiêu dùng xanh đối với sản phẩm dệt may tại thị trường Việt Nam, góp phần thúc đẩy hình thành thị trường sản phẩm may mặc xanh, thực hiện các mục tiêu về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, làm rõ nội hàm và mối quan hệ giữa phân phối xanh và tiêu dùng xanh đối với sản phẩm may mặc thời trang; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và khả năng vận dụng tại Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng xanh hóa hoạt động phân phối; phân tích nhận thức, niềm tin, hành vi và mức độ sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng đối với sản phẩm may mặc xanh.
- Xác định các điểm nghẽn về thể chế, tiêu chuẩn, chi phí, công nghệ, hạ tầng, năng lực doanh nghiệp và hành vi thị trường.
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị chính sách đối với doanh nghiệp, người tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức liên quan; xây dựng khung tài liệu hướng dẫn có khả năng áp dụng trong thực tiễn.
đ) Kết quả thực hiện nhiệm vụ
Nhiệm vụ đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về phân phối xanh, tiêu dùng xanh trong ngành dệt may; xác định mối quan hệ tương hỗ giữa hai hoạt động này trong toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ sản xuất, lưu thông, phân phối và sử dụng đến thu hồi, tái sử dụng, tái bán và tái chế. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng quá trình xanh hóa ngành dệt may cần được triển khai đồng bộ trên toàn chuỗi giá trị, thay vì chỉ tập trung vào khâu sản xuất.
Thông qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, nhiệm vụ đã rút ra một số định hướng có giá trị tham khảo đối với Việt Nam, gồm: quản lý vòng đời sản phẩm; phát triển logistics xanh và logistics ngược; giảm thiểu, chuẩn hóa và tái sử dụng bao bì; áp dụng nhãn sinh thái, truy xuất nguồn gốc và hộ chiếu sản phẩm số; chuẩn hóa thông tin, tuyên bố môi trường; kiểm soát hiện tượng “tẩy xanh”; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi theo lộ trình phù hợp.
Bên cạnh phân tích dữ liệu thứ cấp, nhiệm vụ đã khảo sát trực tuyến 247 người tiêu dùng và 48 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may, thời trang và phân phối. Kết quả khảo sát góp phần nhận diện xu hướng về nhận thức, hành vi và mức sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng; mức độ triển khai phân phối xanh của doanh nghiệp; cũng như các rào cản chủ yếu trên thị trường. Do sử dụng phương pháp lấy mẫu phi xác suất và cơ cấu mẫu thiên về người trẻ, người sử dụng Internet và doanh nghiệp nhỏ và vừa, kết quả có giá trị để nhận diện xu hướng trong phạm vi mẫu, nhưng không đại diện cho toàn bộ thị trường Việt Nam.
Kết quả đánh giá thực trạng cho thấy một số doanh nghiệp đã bước đầu giảm vật liệu bao bì, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường, tối ưu hóa vận chuyển, ứng dụng công nghệ số, truy xuất nguồn gốc và cung cấp thông tin sản phẩm. Một số thương hiệu và chuỗi bán lẻ đã thử nghiệm các hoạt động sửa chữa, thu hồi, tái sử dụng và tái bán sản phẩm. Tuy nhiên, các hoạt động này vẫn còn phân tán, chưa hình thành một hệ thống quản trị phân phối xanh đồng bộ. Doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn còn gặp khó khăn về chi phí, nguồn vốn, công nghệ, dữ liệu, nhân lực, tiêu chuẩn kỹ thuật và hạ tầng thu hồi, phân loại, tái chế.
Về phía người tiêu dùng, nhận thức về tác động môi trường của ngành thời trang và sự quan tâm đến các hành vi tái sử dụng, cho tặng, sửa chữa hoặc lựa chọn vật liệu thân thiện với môi trường đã được cải thiện. Tuy nhiên, khoảng cách giữa nhận thức và hành vi mua sắm thực tế vẫn còn lớn. Những rào cản chủ yếu gồm giá sản phẩm cao; thiếu thông tin minh bạch; khó phân biệt sản phẩm xanh thực chất với các tuyên bố thiếu căn cứ; hạn chế về mẫu mã và mức độ thuận tiện; cùng tâm lý ngại thay đổi thói quen tiêu dùng.
Nhiệm vụ đã xác định năm nhóm điểm nghẽn chính của thị trường dệt may xanh trong nước:
- Thiếu hệ thống tiêu chí thống nhất, dễ áp dụng để nhận diện sản phẩm may mặc xanh và đánh giá hoạt động phân phối xanh.
- Thông tin về vật liệu, nguồn gốc, chứng nhận và lợi ích môi trường chưa đầy đủ, thiếu nhất quán và chưa được kiểm chứng thường xuyên.
- Chi phí sản phẩm, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và tổ chức phân phối xanh vẫn còn cao so với khả năng chi trả của phần lớn người tiêu dùng.
- Độ bao phủ của sản phẩm xanh trong hệ thống phân phối còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào một số thương hiệu, chuỗi bán lẻ hiện đại và các kênh trực tuyến.
- Hạ tầng sửa chữa, thu hồi, phân loại, tái sử dụng, tái bán và tái chế chưa hình thành mạng lưới ổn định; cơ chế phân chia trách nhiệm và chi phí giữa các chủ thể chưa rõ ràng.
Trên cơ sở đó, nhiệm vụ đã đề xuất ba nhóm giải pháp chủ yếu:
- Đối với doanh nghiệp: giảm và chuẩn hóa bao bì; tối ưu hóa kho bãi, vận chuyển và giao hàng; quản lý hoạt động đổi trả; phát triển thương mại điện tử xanh và logistics ngược; ứng dụng công nghệ số, truy xuất nguồn gốc; tăng cường minh bạch thông tin và quản trị dữ liệu.
- Đối với người tiêu dùng: nâng cao khả năng nhận diện sản phẩm xanh; khuyến khích mua sắm phù hợp với nhu cầu; kéo dài thời gian sử dụng; sửa chữa, trao đổi, cho tặng và mua bán sản phẩm đã qua sử dụng; tham gia các chương trình thu hồi sản phẩm.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức liên quan: hoàn thiện khung pháp lý, tiêu chuẩn và tiêu chí về sản phẩm dệt may xanh và phân phối xanh; chuẩn hóa nhãn, chứng nhận và tuyên bố môi trường; kiểm soát hành vi “tẩy xanh”; phát triển tín dụng xanh và cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ; đầu tư hạ tầng logistics xanh, thu hồi và tái chế; tăng cường vai trò của hiệp hội ngành hàng, nền tảng thương mại điện tử, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng và cơ sở đào tạo.
Sản phẩm có giá trị ứng dụng trực tiếp của nhiệm vụ là khung tài liệu hướng dẫn về phân phối xanh và tiêu dùng xanh đối với sản phẩm dệt may. Khung tài liệu cung cấp các nội dung và bảng kiểm tra dành cho doanh nghiệp về bao bì, kho bãi, vận chuyển, giao hàng, đổi trả, minh bạch thông tin, thu hồi và quản lý vòng đời sản phẩm; đồng thời hướng dẫn người tiêu dùng nhận diện, lựa chọn, bảo quản, sửa chữa, tái sử dụng và hoàn trả sản phẩm sau khi sử dụng. Kết quả này có thể tiếp tục được phát triển thành cẩm nang điện tử, tài liệu đào tạo và công cụ tự đánh giá.
Nhìn chung, nhiệm vụ đã hoàn thành các mục tiêu đề ra, bổ sung cơ sở khoa học, cung cấp bằng chứng thực tiễn và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị chính sách có khả năng ứng dụng trong quá trình thúc đẩy chuyển đổi xanh và phát triển bền vững thị trường dệt may Việt Nam.
e) Thời gian thực hiện
- Thời gian bắt đầu: tháng 6 năm 2025.
- Thời gian kết thúc: tháng 5 năm 2026.
g) Kinh phí thực hiện
- Tổng kinh phí: 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng).
- Nguồn kinh phí: Ngân sách nhà nước.
