
Kinh nghiệm phát triển nông thôn thông minh ở một số nước Đông Á và bài học cho Việt Nam
17:20 - 03/08/2026
ThS. Bùi Thị Hồng Hạnh
Công ty CP Công nghệ HumanCore
Tóm lược: Nghiên cứu phân tích kinh nghiệm phát triển nông thôn thông minh tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc nhằm nhận diện các cấu phần thể chế, công nghệ, nguồn lực và quản trị có khả năng tham chiếu cho Việt Nam trong giai đoạn 2026-2030. Trên cơ sở tổng quan có hệ thống các nghiên cứu học thuật và phân tích so sánh tài liệu chính sách, dữ liệu thống kê chính thức, bài viết lập luận rằng nông thôn thông minh thế hệ mới không đồng nhất với số hóa nông nghiệp hay trang bị hạ tầng số. Đó là mô hình phát triển lãnh thổ lấy con người và cộng đồng làm trung tâm, trong đó hạ tầng số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, đổi mới xã hội và tài sản bản địa được phối hợp để nâng năng suất, chất lượng dịch vụ, khả năng chống chịu và phúc lợi. So sánh cho thấy Nhật Bản nổi bật với cách tiếp cận phúc lợi và phục hồi địa phương trong bối cảnh suy giảm dân số; Hàn Quốc với dịch vụ số theo nhu cầu địa phương, nông nghiệp thông minh và hợp đồng phát triển nông thôn; Trung Quốc với mở rộng hạ tầng, thương mại điện tử, dịch vụ công và quản trị số quy mô lớn. Từ đó, bài viết đề xuất cho Việt Nam kiến trúc chính sách đa tầng, mô hình nền tảng tối thiểu kết hợp mô-đun lựa chọn, quản trị dữ liệu nông thôn, phát triển nhân lực số, tài chính theo kết quả và hệ chỉ số đánh giá dựa trên tác động thay vì số lượng thiết bị.
Từ khóa: nông thôn thông minh; làng thông minh; chuyển đổi số nông thôn; Đông Á; phát triển nông thôn; Việt Nam.
Abstract
This study examines smart rural development experiences in Japan, South Korea and China to identify institutional, technological, resource and governance arrangements relevant to Vietnam in 2026-2030. Drawing on a systematic review of academic literature and a structured comparison of official policy documents and statistics, the paper argues that next-generation smart rural development should not be reduced to agricultural digitalization or the deployment of digital infrastructure. Rather, it is a people- and community-centred territorial development model in which digital infrastructure, data, artificial intelligence, automation, social innovation and place-based assets are combined to improve productivity, service accessibility, resilience and well-being. Japan illustrates a well-being and regional revitalization model under demographic contraction; South Korea combines locally tailored digital services, smart farming and rural agreements; China demonstrates large-scale integration of connectivity, e-commerce, public services and digital governance. Based on these comparisons, the paper proposes for Vietnam a multi-level policy architecture, a minimum platform plus selectable modules approach, rural data governance, digital human-capital development, outcome-based financing and an evaluation system focused on measurable impacts rather than equipment counts.
Keywords: smart rural development; smart village; rural digital transformation; East Asia; rural development; Vietnam.
- Đặt vấn đề
Sự chuyển dịch của phát triển nông thôn từ tư duy bù đắp khoảng cách sang tư duy khai thác năng lực và tài sản địa phương diễn ra đồng thời với ba biến đổi lớn: già hóa và suy giảm dân số ở nhiều vùng nông thôn; số hóa nhanh các chuỗi giá trị và dịch vụ công; và áp lực chuyển đổi xanh, thích ứng khí hậu. Khung Rural 3.0 của OECD nhấn mạnh nông thôn không chỉ là khu vực tụt hậu cần trợ cấp mà còn là không gian tạo giá trị, đòi hỏi chính sách dựa trên địa điểm, liên kết đô thị - nông thôn, huy động doanh nghiệp và xã hội dân sự, đồng thời đặt phúc lợi đa chiều của cư dân vào trung tâm (OECD, 2018). Quan điểm này tiếp tục được phát triển trong khung phúc lợi nông thôn và nghiên cứu về khả năng chống chịu nông thôn, theo đó hiệu quả phát triển phải được đánh giá đồng thời trên ba chiều kinh tế, xã hội và môi trường, phù hợp với sự khác biệt giữa nông thôn ven đô, nông thôn gần đô thị và nông thôn xa trung tâm (OECD, 2020) (OECD, 2025).
Trong bối cảnh đó, khái niệm làng thông minh và rộng hơn là nông thôn thông minh nổi lên như một cách tiếp cận mới nhằm kết hợp tri thức địa phương, đổi mới sáng tạo, công nghệ số và hành động cộng đồng. Tuy nhiên, nghiên cứu quốc tế cho thấy thuật ngữ này chưa có một định nghĩa duy nhất; nội hàm thay đổi theo ngành nghiên cứu, địa lý và vấn đề phát triển. Tổng quan của Gerli, Navio Marco và Whalley dựa trên 79 tài liệu cho thấy việc coi làng thông minh đơn thuần là phiên bản nông thôn của thành phố thông minh làm mất đi các đặc trưng về mật độ, cấu trúc kinh tế, vốn xã hội, khoảng cách và khả năng cung ứng dịch vụ của nông thôn (Gerli và cộng sự, 2022). Nghiên cứu thư mục của Bokun và Nazarko cũng chỉ ra bảy nhóm chiều cạnh thường xuất hiện gồm con người, kinh tế, đời sống, năng lượng, môi trường, di chuyển và quản trị; cốt lõi không phải mức độ nhiều công nghệ, mà là năng lực quản lý nguồn lực và đáp ứng nhu cầu cộng đồng (Bokun & Nazarko, 2023).
Đông Á là khu vực có giá trị so sánh đặc biệt đối với Việt Nam vì cùng chịu tác động mạnh của chuyển đổi nhân khẩu, đô thị hóa, tái cấu trúc nông nghiệp, quy mô hộ nhỏ và nhu cầu duy trì sức sống của cộng đồng nông thôn, nhưng lại lựa chọn những cấu trúc chính sách khác nhau. Nhật Bản đặt chuyển đổi số vào chiến lược phục hồi địa phương và phúc lợi; Hàn Quốc kết hợp đầu tư số theo nhu cầu địa phương với nông nghiệp thông minh và cơ chế hợp đồng nông thôn; Trung Quốc thúc đẩy làng số ở quy mô quốc gia gắn với hạ tầng viễn thông, thương mại điện tử, dịch vụ công và quản trị. Chính sự khác biệt này cho phép xác định đâu là nguyên tắc có tính phổ quát, đâu là công cụ phụ thuộc bối cảnh.
Đối với Việt Nam, giai đoạn 2026-2030 đánh dấu một bước chuyển chính sách quan trọng. Chương trình chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 đã chính thức đặt mục tiêu hướng tới nông thôn mới thông minh (Chính phủ, 2022). Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg đưa khoa học công nghệ và chuyển đổi số thành một tiêu chí của xã nông thôn mới; đáng chú ý, xã nhóm 1 và nhóm 2 phải có ít nhất một mô hình thôn thông minh theo quy định cụ thể của địa phương (Chính phủ, 2025). Đồng thời, Nghị quyết 57-NQ/TW đặt thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược vào nhóm nội dung cốt lõi của phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Bộ Chính trị, 2024). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân có hiệu lực từ đầu năm 2026 và Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ ngày 1/3/2026 tạo thêm lớp thể chế mới cho việc sử dụng dữ liệu, thuật toán và hệ thống tự động trong quản trị và dịch vụ nông thôn (Quốc hội, 2025a) (Quốc hội, 2025b). Bài viết này sẽ tổng quan cơ sở lý thuyết, phân tích kinh nghiệm và đề xuất bài học cũng như giải pháp phát triển nông thôn thông minh cho Việt Nam.
