Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Logistics Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

16:26 - 17/06/2026

PGS.TS. Phan Thế Công, Trường Đại học Thương mại

Đặng Thị Tuyết, Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng Quán Không

Tóm lược: Bài viết phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, kỷ nguyên AI và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu giai đoạn 2021-2026. Trên nền tảng lý thuyết nguồn lực, năng lực động, năng lực logistics và chuyển đổi số doanh nghiệp, nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu thứ cấp, phân tích chính sách, so sánh quốc tế và suy luận quy nạp để làm rõ thực trạng, kết quả, hạn chế và hàm ý nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics Việt Nam. Kết quả cho thấy logistics Việt Nam có dư địa tăng trưởng lớn nhờ vị trí địa kinh tế thuận lợi, độ mở thương mại cao, sự mở rộng của thương mại điện tử, đầu tư công vào hạ tầng và khung chính sách mới như Quyết định 2229/QĐ-TTg năm 2025. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa còn bị giới hạn bởi quy mô nhỏ, chi phí logistics cao, liên kết chuỗi yếu, thiếu nền tảng dữ liệu dùng chung, năng lực công nghệ không đồng đều, nhân lực số còn thiếu và khả năng cung cấp dịch vụ tích hợp 4PL/5PL còn hạn chế. Bài viết đề xuất khung giải pháp gồm hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng logistics số, thúc đẩy dữ liệu mở và chia sẻ dữ liệu chuỗi cung ứng, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng AI, nâng cao năng suất, phát triển nhân lực số, tài chính đổi mới sáng tạo và xây dựng hệ sinh thái logistics xanh, thông minh, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Từ khóa: logistics; năng lực cạnh tranh; chuyển đổi số; trí tuệ nhân tạo; doanh nghiệp Việt Nam; chuỗi cung ứng.

Abstract

This paper examines the competitiveness of Vietnamese logistics enterprises in the context of digital transformation, artificial intelligence and global supply chain restructuring during 2021-2026. Drawing on the resource-based view, dynamic capabilities, logistics capabilities and digital transformation literature, the study adopts a secondary-data-based policy research design, combining documentary analysis, synthesis, international comparison and inductive reasoning. The findings indicate that Vietnam’s logistics sector has substantial growth potential due to its strategic geo-economic position, high trade openness, expanding e-commerce, public investment in infrastructure and new policy frameworks such as Decision No. 2229/QD-TTg in 2025. Nevertheless, the competitiveness of domestic logistics firms remains constrained by small firm size, high logistics costs, fragmented supply-chain linkages, insufficient shared data infrastructure, uneven digital readiness, shortages of digital talent and limited capacity to provide integrated 4PL/5PL services. The paper proposes a comprehensive policy and managerial framework, including institutional reform, development of digital logistics infrastructure, open and interoperable supply-chain data, AI adoption support, productivity enhancement, digital human capital development, innovation finance and the formation of a green, smart and globally connected logistics ecosystem.

Keywords: logistics; competitiveness; digital transformation; artificial intelligence; Vietnamese enterprises; supply chain.

JEL Codes: L91, M10, O32, O33, R41, F14.

  1. Đặt vấn đề

Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở thương mại cao, nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á, tiếp giáp các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng và ngày càng tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trong hơn ba thập niên đổi mới, mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài, công nghiệp chế biến chế tạo và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhu cầu logistics ngày càng lớn. Giai đoạn 2021-2026 có ý nghĩa đặc biệt vì đây là thời kỳ Việt Nam vừa phục hồi sau đại dịch COVID-19, vừa chịu tác động từ đứt gãy chuỗi cung ứng, căng thẳng địa chính trị, yêu cầu xanh hóa thương mại, sự phát triển nhanh của thương mại điện tử và làn sóng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị chuỗi cung ứng. Theo số liệu chính thức, GDP Việt Nam tăng 7,09% năm 2024 và 8,02% năm 2025; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2025 đạt khoảng 930,05 tỷ USD, cho thấy áp lực và cơ hội rất lớn đối với hệ thống logistics quốc gia.

Trong bối cảnh đó, logistics không còn là hoạt động hỗ trợ thuần túy mà trở thành năng lực chiến lược quyết định tốc độ lưu chuyển hàng hóa, chi phí giao dịch, khả năng chống chịu chuỗi cung ứng, mức độ đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ góc nhìn kinh tế học cạnh tranh, lợi thế của doanh nghiệp không chỉ đến từ giá rẻ hay lao động chi phí thấp mà ngày càng phụ thuộc vào năng lực phối hợp tài sản hữu hình, dữ liệu, công nghệ, tri thức quản trị, mạng lưới đối tác và khả năng đổi mới liên tục. Điều này đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp logistics Việt Nam, bởi phần lớn doanh nghiệp trong ngành có quy mô nhỏ và vừa, năng lực vốn hạn chế, công nghệ chưa đồng đều, trong khi thị trường lại chịu cạnh tranh mạnh từ các tập đoàn logistics quốc tế có lợi thế về mạng lưới, nền tảng số, năng lực tích hợp dịch vụ và quản trị dữ liệu xuyên biên giới. Doanh nghiệp logistics trong bài viết này được hiểu là các doanh nghiệp cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ liên quan đến tổ chức, thực hiện và quản trị dòng lưu chuyển hàng hóa, thông tin và chứng từ trong chuỗi cung ứng, bao gồm vận tải, kho bãi, giao nhận, thông quan, chuyển phát, phân phối, vận tải đa phương thức, dịch vụ hỗ trợ thương mại và các dịch vụ logistics tích hợp. Cách hiểu này phù hợp với phạm vi dịch vụ logistics được quy định tại Nghị định số 163/2017/NĐ-CP của Chính phủ, đồng thời được mở rộng theo bối cảnh chuyển đổi số để bao quát các doanh nghiệp logistics nền tảng, doanh nghiệp cung cấp giải pháp dữ liệu, AI và dịch vụ quản trị chuỗi cung ứng số.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của bài viết là: làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, khi cạnh tranh ngành không còn dừng ở vận tải, kho bãi và giao nhận, mà mở rộng sang năng lực dữ liệu, AI, tự động hóa, truy xuất nguồn gốc, logistics xanh và dịch vụ chuỗi cung ứng tích hợp? Từ vấn đề đó, bài viết tập trung trả lời ba câu hỏi nghiên cứu: Thứ nhất, cơ sở lý luận nào phù hợp để phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics trong kỷ nguyên số? Thứ hai, thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics Việt Nam giai đoạn 2021-2026 thể hiện qua những kết quả và hạn chế nào? Thứ ba, Việt Nam cần thiết kế hệ thống chính sách và giải pháp quản trị ra sao để hình thành doanh nghiệp logistics có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế?

Bài viết tập trung phân tích 3 nội dung: Một là, bài viết tích hợp lý thuyết nguồn lực, năng lực động và chuyển đổi số để đề xuất cách tiếp cận đa tầng về năng lực cạnh tranh logistics, trong đó năng lực số và năng lực dữ liệu được xem là lõi mới của lợi thế cạnh tranh. Hai là, bài viết cập nhật bối cảnh chính sách mới đến năm 2026, đặc biệt là Quyết định 2229/QĐ-TTg năm 2025 về Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến 2050; Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 193/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc biệt; và Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025. Ba là, bài viết đưa ra hệ thống hàm ý chính sách và giải pháp quản trị gắn với chuyển đổi số, AI, hạ tầng dữ liệu, logistics xanh, khu thương mại tự do, đầu tư công và cơ chế đặc thù, thay vì chỉ đề xuất các giải pháp chung về hạ tầng và thủ tục hành chính.

Chi tiết bài viết tại đây