
Sản xuất OEM, ODM và OBM trong nâng cấp chuỗi giá trị công nghiệp
15:37 - 04/11/2026
ThS. Hồ Thị Ngọc, TS. Trương Thị Chí Bình, CN. Vũ Thị Thu Hường
Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương
Tóm tắt: Bài viết phân tích OEM, ODM và OBM như ba cấu hình kinh doanh khác nhau về phạm vi trách nhiệm, quyền kiểm soát và rủi ro trong chuỗi giá trị, thay vì ba nấc thang mà mọi doanh nghiệp đều phải lần lượt đi qua. Nghiên cứu sử dụng tổng quan có cấu trúc, so sánh trường hợp và tổng hợp chính sách từ kinh nghiệm Đài Loan, Hàn Quốc, ngành đồ chơi, điện tử, dệt may và sơn mài Trung Quốc. Kết quả chỉ ra các cơ chế nâng cấp chủ yếu: chuyên sâu quy trình; tích hợp cụm và sản phẩm; làm chủ thiết kế; và phát triển thương hiệu, thị trường. Đối với phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, OEM tích hợp là mục tiêu nâng cấp thực chất vì đòi hỏi làm chủ BOM, QCD, NPI, nhà cung cấp, thay đổi kỹ thuật và trách nhiệm sản phẩm. ODM và OBM chỉ phù hợp khi doanh nghiệp đã tích lũy đủ năng lực thiết kế, vốn dài hạn, sở hữu trí tuệ và thị trường. Bài viết khuyến nghị doanh nghiệp lựa chọn quỹ đạo dựa trên năng lực lõi và phương án kinh doanh; Nhà nước tổ chức hỗ trợ theo sản phẩm, BOM, người mua và đơn hàng; đồng thời phát triển hạ tầng thiết kế, thử nghiệm, tài chính theo chu kỳ dự án và cơ chế phát triển nhà cung cấp gắn với nhu cầu thực tế.
Từ khóa: OEM; ODM; OBM; công nghiệp hỗ trợ; nâng cấp chuỗi giá trị
Đặt vấn đề
Việt Nam đã tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu, nhưng phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước vẫn cung cấp linh kiện rời hoặc thực hiện một số công đoạn theo bản vẽ và yêu cầu của khách hàng. Cách tham gia này cần thiết để tích lũy tiêu chuẩn và kỷ luật sản xuất, song doanh nghiệp thường chỉ nắm một phần nhỏ của sản phẩm, ít quyền đối với thiết kế, vật tư, nhà cung cấp và thị trường. Khi chi phí lao động, đất, vốn và tuân thủ tăng, lợi thế của mô hình gia công đơn giản suy giảm; đồng thời người mua quốc tế ngày càng tìm kiếm nhà cung cấp có thể cung ứng cụm, sản phẩm hoàn chỉnh và tham gia sớm vào quá trình phát triển sản phẩm.
Trong thảo luận chính sách, OEM thường bị đồng nhất với lắp ráp và bị xếp mặc nhiên vào khâu có giá trị gia tăng thấp, trong khi ODM và OBM được coi là đích đến cao hơn. Cách nhìn này bỏ qua sự khác biệt giữa lắp ráp bằng bộ linh kiện nhập khẩu theo quy trình cố định và một OEM tích hợp tự quản trị hàng trăm hoặc hàng nghìn mã vật tư, phát triển nhà cung cấp, thiết kế cho sản xuất, đưa sản phẩm mới vào sản xuất hàng loạt, kiểm soát chất lượng, chi phí, giao hàng và chịu trách nhiệm với sản phẩm. Nó cũng dễ dẫn đến chính sách thúc đẩy doanh nghiệp xây thương hiệu quá sớm, trước khi có nền tảng công nghệ, tài chính và thị trường phù hợp.
Bài viết trả lời ba câu hỏi: OEM, ODM và OBM khác nhau ở đâu; doanh nghiệp nâng cấp giữa các mô hình bằng cơ chế nào; và Việt Nam có thể rút ra bài học gì cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Trên cơ sở đó, bài viết xem xét OEM tích hợp như một năng lực công nghiệp cần được đánh giá theo phạm vi trách nhiệm thực tế, đồng thời xác định điều kiện để doanh nghiệp tiếp tục phát triển ODM hoặc OBM.
