
Thể chế địa phương, khả năng tiếp cận nguồn lực và tăng trưởng của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
17:05 - 01/08/2026
Ngô Anh Hào, email: haona33@gmail.com
Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ chế mà chất lượng thể chế địa phương tác động đến tăng trưởng của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thông qua khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất và phát triển. Khác với cách tiếp cận xem thể chế như một biến môi trường tác động trực tiếp đến kết quả doanh nghiệp, nghiên cứu xây dựng khung truyền dẫn ba tầng: chất lượng điều hành và thực thi ở cấp địa phương; khả năng tiếp cận, chi phí và độ ổn định của nguồn lực; và kết quả tăng trưởng, tồn tại, năng suất, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp lý thuyết, phân tích thể chế - chính sách, so sánh theo thời gian và khai thác dữ liệu thứ cấp từ PCI 2021-2025, Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân thí điểm năm 2025, số liệu thống kê doanh nghiệp năm 2025 và sáu tháng đầu năm 2026, cùng các văn bản chính sách. Kết quả cho thấy cải thiện thể chế không chuyển hóa tức thời thành tăng trưởng doanh nghiệp mà có độ trễ và phụ thuộc vào các điều kiện bổ trợ. Các nút thắt nổi bật vẫn tập trung ở tiếp cận tín dụng, đất đai, chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng, năng lực kiến tạo và đổi mới sáng tạo. Bài viết đề xuất chuyển trọng tâm cải cách địa phương từ giảm chi phí thủ tục sang nâng cao năng lực phân bổ nguồn lực, giảm bất định, tạo thị trường cạnh tranh và xây dựng hạ tầng dữ liệu phục vụ tín dụng, đất đai, đổi mới và liên kết chuỗi giá trị.
Từ khóa: Chất lượng thể chế địa phương; Tiếp cận nguồn lực; Doanh nghiệp tư nhân; Tăng trưởng doanh nghiệp; PCI; Quản trị địa phương.
Abstract
This article examines how local institutional quality affects the growth of private enterprises in Viet Nam through firms’ access to productive and developmental resources. Instead of treating institutions as a contextual variable with an immediate direct effect on firm outcomes, the study develops a three-layer transmission framework linking local governance and implementation quality, resource access and resource costs, and firm growth, survival, productivity and innovation. The analysis combines institutional and policy review, theoretical synthesis, time-comparative assessment and verified secondary evidence from the Provincial Competitiveness Index for 2021-2025, the pilot Business Performance Index 2025, official enterprise statistics for 2025 and the first half of 2026, and policy documents. The evidence suggests that institutional improvements do not translate instantaneously into private-sector outcomes; their effects are lagged and conditional on complementary market and firm capabilities. Persistent bottlenecks are found in credit and land access, business support, competitive neutrality, proactive local governance and innovation. The article recommends shifting local reform from a narrow focus on administrative burden reduction toward institutional capacity for efficient resource allocation, lower policy uncertainty, fair competition, data-enabled finance, transparent land access, innovation support and value-chain linkages.
Keywords: Local institutional quality; Resource access; Private enterprises; Firm growth; Provincial competitiveness; Local governance.
1. Đặt vấn đề
Trong kinh tế học thể chế, chất lượng của các luật chơi và cách thức thực thi các luật chơi đó quyết định mức độ bất định, chi phí giao dịch và động cơ đầu tư của các chủ thể kinh tế. Thể chế là hệ thống các ràng buộc chính thức và phi chính thức định hình tương tác con người; Williamson (2000) nhấn mạnh cấu trúc quản trị là cơ chế điều tiết giao dịch trong điều kiện hợp đồng không hoàn chỉnh. Đối với doanh nghiệp tư nhân, ý nghĩa thực tiễn của thể chế thể hiện ở một câu hỏi cụ thể hơn: doanh nghiệp có thể tiếp cận đất đai, tín dụng, lao động có kỹ năng, thông tin, dịch vụ công, cơ hội mua sắm công, công nghệ và mạng lưới thị trường với chi phí, độ chắc chắn và mức độ bình đẳng như thế nào. Việt Nam tạo ra một bối cảnh đặc biệt phù hợp để nghiên cứu vấn đề này. Khung pháp luật kinh doanh về cơ bản mang tính thống nhất trên phạm vi quốc gia, nhưng chất lượng thực thi, khả năng phối hợp, mức độ minh bạch, tính chủ động và cách phân bổ nguồn lực có thể khác đáng kể giữa các địa phương. Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu PCI từ giai đoạn trước đã cho thấy sự khác biệt về quản trị cấp tỉnh có liên hệ với năng suất, tái đầu tư và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Tran, Grafton và Kompas (2009) chỉ ra rằng chất lượng thực hành quản trị cấp tỉnh có ý nghĩa trong giải thích chênh lệch kết quả doanh nghiệp; Nguyen, Mickiewicz và Du (2018) cho thấy quản trị địa phương tác động tới tăng trưởng doanh nghiệp thông qua chi phí giao dịch; Tan và Tran (2017) phát hiện môi trường kinh doanh tốt hơn có thể nâng năng suất cả qua kênh cải thiện hiệu quả nội bộ doanh nghiệp và kênh phân bổ nguồn lực giữa các doanh nghiệp. Những kết quả này hàm ý rằng thể chế tốt chỉ có giá trị kinh tế khi làm thay đổi các điều kiện ra quyết định và khả năng huy động nguồn lực của doanh nghiệp.
Giai đoạn 2021-2026, một mặt, khu vực tư nhân phải hấp thụ các cú sốc sau đại dịch, biến động thị trường, chi phí vốn, thay đổi chuỗi cung ứng và áp lực chuyển đổi số - xanh. Mặt khác, từ năm 2025, Việt Nam đồng thời thúc đẩy cải cách thể chế phát triển kinh tế tư nhân, sắp xếp không gian hành chính cấp tỉnh và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động và xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; Nghị quyết số 198/2025/QH15 thiết lập một số cơ chế đặc biệt về đất đai, tín dụng, thuế, mua sắm công, khoa học - công nghệ và đào tạo để cụ thể hóa định hướng này. Những thay đổi đó làm cho chất lượng thể chế địa phương không còn chỉ là vấn đề thuận lợi thủ tục, mà trở thành năng lực biến chính sách trung ương thành khả năng tiếp cận nguồn lực thực chất của doanh nghiệp.
Bài viết sẽ đánh giá thực trạng, đưa ra các đóng góp về chính sách, cải cách mới cần dịch chuyển từ logic giảm phiền hà hành chính sang logic tăng năng lực phân bổ và kích hoạt nguồn lực, trong đó chất lượng dữ liệu, cạnh tranh bình đẳng, tín dụng dựa trên dòng tiền, thị trường đất minh bạch, kỹ năng, đổi mới và liên kết chuỗi giá trị là các mắt xích quyết định.
- Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu
2.1. Chất lượng thể chế địa phương và hành vi tăng trưởng của doanh nghiệp
Từ góc nhìn kinh tế học thể chế, doanh nghiệp ra quyết định đầu tư khi lợi ích kỳ vọng đủ bù đắp chi phí giao dịch, rủi ro bị tước đoạt lợi ích và bất định chính sách. Thể chế địa phương có thể làm giảm các loại chi phí này thông qua minh bạch thông tin, thủ tục nhất quán, bảo vệ quyền tài sản, thực thi hợp đồng, giảm chi phí không chính thức và tăng khả năng dự báo. Ngược lại, thể chế thực thi yếu làm tăng thuế bất định đối với đầu tư: doanh nghiệp không chỉ phải trả chi phí chính thức hay không chính thức, mà còn chịu chi phí cơ hội do trì hoãn dự án, giữ thanh khoản phòng thủ, thu hẹp thời hạn đầu tư hoặc tránh mở rộng quy mô để giảm mức độ tiếp xúc với cơ quan công quyền.
Cách tiếp cận chi phí giao dịch cho phép giải thích vì sao cùng một quy định quốc gia có thể tạo ra kết quả khác nhau giữa các địa phương. Quy định pháp luật là điều kiện cần; chất lượng thực thi mới quyết định thời gian xử lý, mức độ nhất quán và khả năng doanh nghiệp dự báo kết quả giao dịch. Nguyen, Mickiewicz và Du (2018) cho thấy tăng trưởng của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam có liên hệ với chất lượng quản trị địa phương qua các kênh chi phí giao dịch. Việc chỉ đo có hay không có quy định hoặc tham nhũng chưa đủ; quan trọng là cường độ, tần suất và chi phí kinh tế mà doanh nghiệp phải gánh chịu.
Một lớp giải thích khác là cơ chế phân bổ nguồn lực. Tan và Tran (2017) cho rằng chất lượng quản trị địa phương có thể nâng năng suất không chỉ bằng cách làm doanh nghiệp hiện hữu hoạt động hiệu quả hơn, mà còn qua việc để nguồn lực dịch chuyển tới doanh nghiệp có năng suất cao hơn. Đây là luận điểm quan trọng đối với Việt Nam vì mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân không thể chỉ được đo bằng số doanh nghiệp thành lập mới. Nếu đất, vốn, lao động có kỹ năng và cơ hội thị trường bị phân bổ theo quan hệ, tài sản thế chấp hoặc vị thế hành chính thay vì năng suất và phương án kinh doanh, số lượng doanh nghiệp có thể tăng nhưng năng suất tổng thể và năng lực mở rộng quy mô vẫn bị giới hạn.
Bên cạnh tác động tại chỗ, chất lượng thể chế còn có hiệu ứng không gian. Huynh (2022), sử dụng mô hình Durbin không gian trên dữ liệu cấp tỉnh Việt Nam giai đoạn 2011-2018, cho thấy chất lượng thể chế của một địa phương có tác động trực tiếp đến kết quả doanh nghiệp tại địa phương đó và tác động gián tiếp đến doanh nghiệp ở địa phương lân cận. Sau sắp xếp đơn vị hành chính và mở rộng quy mô tỉnh, hàm ý này càng đáng chú ý: cải cách đất đai, logistics, dữ liệu, đào tạo kỹ năng hay dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp cần được nhìn theo vùng kinh tế và chuỗi cung ứng thay vì chỉ theo ranh giới hành chính.
2.2. Khả năng tiếp cận nguồn lực như cơ chế truyền dẫn trung gian
Lý thuyết nguồn lực của doanh nghiệp nhấn mạnh rằng lợi thế cạnh tranh bền vững phụ thuộc vào khả năng sở hữu, kết hợp và khai thác các nguồn lực có giá trị, khó thay thế và khó sao chép. Tuy nhiên, trong nền kinh tế chuyển đổi và ở nhóm doanh nghiệp nhỏ, câu hỏi doanh nghiệp có nguồn lực gì phải được đặt cùng câu hỏi doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn lực nào, theo điều kiện nào, với chi phí và độ ổn định ra sao. Trong bài viết này, khả năng tiếp cận nguồn lực được xem là biến trung gian thể chế: chất lượng quản trị địa phương ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp có thể tiếp cận và sử dụng các yếu tố đầu vào quan trọng, từ đó tác động đến quyết định tăng trưởng. Nguồn lực tài chính là kênh rõ nhất. Beck, Demirgüç-Kunt và Maksimovic (2005) chỉ ra rào cản tài chính và pháp lý có tác động bất lợi mạnh hơn đối với doanh nghiệp nhỏ. Trong trường hợp Việt Nam, Nguyen, Su và Sharma (2019) cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa đối mặt với hạn chế tín dụng đáng kể; Bui và cộng sự (2021) phát hiện trở ngại tài chính làm giảm tăng trưởng doanh thu và việc làm, trong đó các doanh nghiệp nhỏ nhất bị ảnh hưởng mạnh hơn. Nghiên cứu của ADB năm 2024 tiếp tục nhấn mạnh vai trò của tiếp cận tài chính đối với hoạt động và tăng trưởng DNNVV tại Việt Nam. Cơ chế thể chế ở đây nằm ở chất lượng thông tin, quyền tài sản, đăng ký tài sản, chi phí thực thi hợp đồng, chất lượng dữ liệu kế toán - thuế và khả năng thiết kế các cơ chế bảo lãnh, đồng tài trợ, chấm điểm tín dụng ngoài tài sản thế chấp.
Đất đai là nguồn lực thứ hai có đặc trưng thể chế rất cao. Khác vốn lưu động có thể điều chỉnh theo quy mô, đất và mặt bằng gắn với quy hoạch, thủ tục, định giá, quyền sử dụng và rủi ro thay đổi chính sách. Ho (2021) cho thấy quyền sử dụng đất tư nhân có tác động tích cực đến phát triển kinh tế nhưng quy mô tác động bị hạn chế bởi bất an quyền sử dụng và chi phí thời gian, thuế trong giao dịch đất. Với doanh nghiệp, một thủ tục đất đai kéo dài không chỉ làm tăng chi phí hành chính mà có thể làm mất cửa sổ thị trường, trì hoãn đầu tư thiết bị, đẩy chi phí tài chính tăng và làm doanh nghiệp bỏ kế hoạch mở rộng.
Nguồn nhân lực, thông tin và công nghệ tạo nên nhóm nguồn lực tri thức. Năng lực của doanh nghiệp trong đổi mới, số hóa và tham gia chuỗi giá trị phụ thuộc vào kỹ năng lao động, khả năng tiếp cận thông tin chính sách, dịch vụ tư vấn, hạ tầng số và hệ sinh thái nghiên cứu - phát triển. Le và Tomasi (2023) cho thấy các ma sát trong môi trường kinh doanh địa phương, bao gồm quyền tài sản, hệ thống chứng nhận đất, thủ tục hành chính và thị trường lao động, có thể làm thay đổi mức độ doanh nghiệp chuyển hóa lợi ích từ tự do hóa thương mại thành năng suất. Do đó, chất lượng thể chế địa phương không chỉ ảnh hưởng chi phí kinh doanh mà còn ảnh hưởng khả năng hấp thụ các cơ hội công nghệ và thị trường.
